Lịch sử Việt Nam – Chín chúa, mười ba vua. Chương 1: Chúa Tiên!


Thật lòng mà nói, tui thuộc lòng lịch sử Trung Quốc mặc dù tôi chưa hề nghiên cứu qua. Tất cả là do từ những năm 80, Sàigòn ta ghiền phim bộ Hồng Kông, nhà nhà có đầu máy, người người thuê băng….Và tôi vẫn đau đáu một niềm da diết là do dù mài thủng đít quần tại ghế nhà trường gần 18 năm và điểm lịch sử thường trên 8,5 nhưng tui vẫn không sao nhớ được lịch sử Việt Nam qua từng thời đại ….một cách tự nguyện…Sợ rằng con gái cũng sẽ trải qua nổi lòng như của mẹ, nên tui quyết tâm làm một bảng tổng thể lịch sử Việt Nam chi tiết nhất trong khả năng có thể…. để sau này nếu phải học qua, Ruby cũng có tư liệu để mà nghiên cứu.


Sơ Lược Bối Cảnh Lịch Sử

Nam Triều, Bắc Triều (1527-1592)

Nhà Lê truyền từ Lê Thái Tổ (1428-1433) đến Lê Cung Hoàng (1524-1527), được 10 đời vua kéo dài 99 năm, thì bị Mạc Đăng Dung chiếm ngôi. Năm 1527 Mạc Đăng Dung giết vua Cung Hoàng và bắt các quan trong triều thảo chiếu truyền ngôi cho nhà Mạc.
Họ Mạc làm vua từ năm 1527 đến năm 1592 (đời vua Mạc Mậu Hợp) truyền được 5 đời trong 65 năm thì phải rút về Cao Bằng, nhờ Nhả Minh can thiệp để tiếp tục hùng cứ ở vùng đất biên giới Hoa Việt (Cao Bằng), đến năm 1667 mới dứt hẳn. Sử gọi nhà Mạc là Bắc Triều
Họ Nguyễn (Nguyễn Kim) và họ Trịnh (Trịnh Kiểm) giúp nhà Lê Trung Hưng (còn gọi là nhà Hậu Lê) ở vùng Thanh Hóa, lập con út vua Chiêu Tông lên làm vua, tức Lê Trang Tông (1533-1548), truyền được thêm 17 đời, đến Lê Chiêu Thống (1787-1788) mới chấm dứt. Như vậy, tổng công trước sau nhà Lê truyền được 354 năm, với 27 đời vua (6 năm không có vua Lê, từ 1527 đến 1533 là thời gian Mạc Đăng Dung mới chiếm ngôi). Sử gọi nhà Lê Trung Hưng giai đoạn đánh nhau với họ Mạc là Nam Triều.

Chín Chúa

1. Chúa Nguyễn Hoàng còn gọi là Chúa Tiên (1558-1613)

Tiên vương (còn gọi là chúa Tiên) Nguyễn Hoàng là con trai thứ hai của An Thành Hầu Nguyễn Kim và bà Nguyễn Thị Mai. Sinh ngày 10 tháng 8 năm Ất dậu (28-8-1525). ông sinh ra ở Thanh Hóa khi nhà Hậu Lê chạy loạn về đây. Sau khi nhà Mạc cướp ngôi nhà Lê. Tướng Nguyễn Kim của nhà Lê chạy vào Thanh Hóa. Sau đó Nguyễn Kim đón con của Lê Chiêu Tông là Lê Duy Ninh từ bên Lào về lập làm vua (Lê Trang Tông -1533). Với sự kiện này, nước Đại Việt mở ra thời kì Nam – Bắc triều, lắm vua nhiều chúa, chiến tranh liên miên gần 300 năm mới thống nhất.

Năm Ất tỵ (1545) Nguyễn Kim mất, lúc ngài 21 tuổi.
Khi ấy toàn bộ binh quyền của Nam triều rơi vào tay Trịnh Kiểm (con rể Nguyễn Kim). Để toàn tâm toàn ý phò vua Lê (Nam triều) chống lại nhà Mạc (Bắc triều), Trịnh Kiểm phải ra tay trừ hậu họa nội bộ. Nguyễn Uông (anh của Nguyễn Hoàng) bị giết. Nguyễn Hoàng sợ vạ lây, nhưng không nghĩ ra cách gì bèn sai người đem vàng bạc làm lễ vật biếu quan nhà Mạc đã hưu trí là Trình quốc Công Nguyễn Bỉnh Khiêm để hỏi kế giữ thân. Trình Quốc Công lấy giấy bút viết 8 chữ giao cho người tâm phúc của Nguyễn Hoàng đem về. Đoan Quận Công Nguyễn Hoàng mở thư đọc, thấy 8 chữ “Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân” (Hoành sơn một giải, dung thân muôn đời).

Nguyễn Bỉnh Khiêm

Hiểu được ý nghĩa của lời chỉ bảo, Nguyễn Hoàng cầu cứu với chị là Ngọc Bảo, xin Trịnh Kiểm cho vào trấn phía Nam.

Năm Mậu Ngọ (1558) đời vua Anh Tông, Trịnh Kiểm mới thuận, tâu vua cho Nguyễn Hoàng vào trấn đất Thuận Hóa. Bấy giờ những người họ hàng ở huyện Tống Sơn cùng quân lính ở đất Thanh Nghệ nhiều người đưa cả vợ con đi theo, khoảng một ngàn quân sĩ. Đầu tiên Nguyễn Hoàng vào đóng ở xã ái Tử thuộc huyện Đăng Xương, tỉnh Quảng Trị và bắt đầu thu phục nhân tâm, rộng ban ơn đức, anh hùng hào kiệt hấp nơi kéo nhau về giúp. Họ Nguyễn bắt đầu khởi nghiệp và bành trướng ở xứ Đàng Trong.


Đất Thuận Hóa – Huế xưa

Năm Canh ngọ (1570), ngài dời đô qua làng Trà Bát cũng thuộc huyện Vũ Xương. Năm này ngài được phong làm Tổng trấn Tướng quân kiêm lãnh hai xứ Thuận – Quảng.

Năm Nhâm ngọ (1572), tướng Mạc là Lập Bạo đem quânvào đánh Thuận Hóa bị ngài đánh bại giết chết.

Năm Quí dậu (1573), vua Lê Thế Tông lên ngôi, sai sứ đem sắc tấn phong ngài chứa Thái Phó.

Mươì năm trấn nhậm với chính sách rộng rãi, quân lệnh nghiêm trang nên nhân dân được an cư lạc nghiệp. Chợ không bán hai giá, người không có trộm cướp, đêm ngủ không phải đóng cửa. Thuyền buôn ngoại quốc đến buôn bán đông đúc. Xứ Thuận – Quảng trở thành nơi đô hội lớn.

Năm Quý tỵ (1593), Trịnh Tùng dẹp nhà Mạc, rước vua Lê trở về Đông đô, ngài đem quânra yết kiến được vua phong chức trung quân Đô đốc phủ, Tả Đô đốc chưởng phủ sự, Thái úy Đoan Quốc Công. Ngài ở Đông đô 8 năm, thường đem quân đi đánh dẹp tàn quân nhà Mạc, đánh đâu thắng đó.

Năm Ất mùi (1595), ngài được cử làm Đề diệu khoa thi Tiến sĩ.

Năm Kỷ hợi (1599), vua Lê Thế Tông băng, vua Kính Tông lên ngôi, tấn phong ngài làm Hữu tướng.

Ngài ở Đông đô lập nhiều công, Trịnh Tùng không cho ngài trở về Thuận Hóa vì sợ “Thả hổ về rừng”.

Năm Canh tỵ (1600), ngài lập kế đi đánh Phan Ngạn, Bùi Văn Khuê rồi đem tướng sĩ, binh thuyền theo đường biển về Thuận Hóa. Ngài dời dinh sang phía đông Ái Tử gọi là dinh Cát. Muốn Chúa Trịnh khỏi nghi ngờ, ngài để một người con là Nguyễn Hải và một cháu là Nguyễn Hắc ở lại làm con tin và về sau gả con là Ngọc Tú cho Trịnh Tráng, con cả của Trịnh Tùng. Vua Lê và Chúa Trịnh sai sứ vào phủ dụ.

Năm Nhâm dần (1611), quân Chiêm xâm lấn bờ cõi, ngài đem quân đánh dẹp, lấy vùng đất biên giới lập thành phủ Phú Yên.

Năm Tân sửu (1601), ngài cho xây chùa Thiên Mụ

Năm Quý sửu (1613), ngày mồng 3 tháng 6 (20-7), ngài yếu, cho triệu Thế tử và Thân thần đến trước ngự sàng bảo rằng: ” Ta với các ông cùng nhau cam khổ đã lâu, muốn dựng nên nghiệp lớn. Nay ta để gánh nặng lại cho con ta, các ông vui lòng giúp đỡ cho nên công nghiệp.” Rồi ngài dặng Thế tử: ” Làm con phải hiếu, làm tôi phải trung, anh em phải thương yêu nhau. Con mà giữ được lời dặn đó thì ta không ân hận gì.” Ngài lại nói: “Đất
Thuận – Quảng, Bắc có Hoành sơn và sông Gianh hiểm trở, Nam có núi Hải Vân và núi Thạch Bi bền vững. Núi sẵn vàng, sắt; biển sẵn cá, muối thật là đất dụng võ của người anh hùng. Nếu biết dạy dân, luyện binh chống với họ Trịnh thì đủ xây dựng cơ nghiệp muôn đời. vì bằng thế lực không thể địch được thì cố giữ đất đai chờ cơ hội, đừng bỏ qua lời dặn của ta.” Dặn dò xong ngài băng, ở ngôi 56 năm, thọ 89 tuổi.

Vợ, con chúa Nguyễn Hoàng

Chiếu theo gia phả nhà Nguyễn, thì ông Nguyễn Hoàng có mười người con trai, song mười người ấy không phải cùng một mẹ sinh ra.

Hoàng tử Hoàng nữ
1. Nguyễn Hà 1. Nguyễn Phúc Ngọc Tiên
2. Nguyễn Hán 2. Nguyễn Phúc Ngọc Tú
3. Nguyễn Thành
4. Nguyễn Diễn
5. Nguyễn Hải
6. Nguyễn Phúc Nguyên
7. Nguyễn Phúc Hiệp
8. Nguyễn Phúc Trạch
9. Nguyễn Phúc Dương
10. Nguyễn Phúc Khê

Chúng ta có thể biết rõ tính danh và tung tích cả mười người con trai ấy, song về những người mẹ của họ thì gia phả chỉ kể sơ lược tiểu sử bà được phong là Hoàng Hậu, và chỉ nói sơ qua tước hiệu những bà mẹ của những hoàng tử nào có địa vị đặc biệt mà thôi, còn những hoàng tử khác sinh bởi mẹ nào không nói rõ.

Người con cả là Nguyễn Hà, sinh bởi bà vợ cả; Nguyễn Hà không được nối nghiệp cha, nên mẹ, tuy là vợ cả, không được phong làm Hoàng Hậu. Gia phả chỉ ghi tước hiệu bà là “Đoan Quốc Thái phu nhân”.

Con thứ hai, Hán; thứ ba, Thành; thứ tư, Diễn; thứ năm, Hải; gia phả không cho biết sinh bởi mẹ nào.

Con thứ sáu, Nguyên, được chọn kế vị ông Nguyễn Hoàng, đương thời gọi là Sãi Vương sau được truy tôn là Hy Tôn Hiếu Văn Hoàng Đế. Vì vậy, mẹ là vợ thứ, lại được cất lên bậc Hoàng Hậu. Bà quê ở Thanh Hóa, cũng họ Nguyễn, song không rõ tên cha mẹ là gì. Chết ngày 16 tháng 5, năm nào không rõ. Vua Gia Long phong tước là “Từ Lương Quang Thục Minh Đức Y Cung Gia Dũ Hoàng Hậu”

Con thứ bảy, thứ tám là Hiệp, Trạch, làm nguỵ, gia phả không hề nói đến mẹ.

Con thứ chín là Dương, “sinh bởi một mẹ không rõ lai lịch”.

Sau cùng, con thứ mười là Khê, lại được gia phả ghi rõ tên mẹ: “Minh Đức Vương thái phi”.

Tóm lại trong các người vợ của ông Nguyễn Hoàng, người ta chỉ biết tên ba bà thôi, hay nói cho đúng, chỉ biết tước hiệu do vua Gia Long truy tặng cho các bà. Xét theo thứ bậc quan hệ thì phải kể như sau:

Quan trọng hơn cả là Gia Dũ Hoàng Hậu. Tước đầy đủ là Từ Lương Quang Thục Minh Đức Y Cung Gia Dũ Hoàng Hậu. Thứ đến Minh Đức Vương thái phi: bà này tuy là vợ chót, nhưng lại được truy tặng là bậc đứng đầu hàng “phi”, vì con là Hoàng tử Khê có công lớn với triều đình. Cả hai bà này tước rất trọng, đều được tước hiệu là “Minh Đức” chỉ khác nhau về thứ bậc “Hoàng Hậu” và “Vương Phi”. Sau cùng mới đến bà vợ cả, tước hiệu rất thường: Đoan Quốc Công Thái Phu Nhân.

“Hoàng Hậu” và “Vương Phi” là tiếng chỉ vợ chính và vợ lẽ của bậc vua chúa. Còn tiếng “Phu Nhân” để chỉ vợ quan hay dân có ít nhiều địa vị. Như vậy, Đoan Quốc Công Thái phu nhân, chỉ có nghĩa là vợ ông Đoan Quốc Công, tức là tước hiệu thường của Nguyễn Hoàng, khi chưa được truy tặng vương quyền.

(còn tiếp)

CHƯƠNG 1: CHÚA NGUYỄN HOÀNG, BÀ MINH ĐỨC VÀ HOÀNG TỬ KHÊ
Chúa Nguyễn Hoàng

Ông Nguyễn Hoàng là con thứ hai ông Nguyễn Kim, triệu tổ nhà Nguyễn, sinh năm 1525 tại đất Thanh Hóa. Lớn lên ông cùng hợp lực với cha và anh là Nguyễn Uông gây dựng lại cơ đồ nhà Lê, lập nhiều chiến công, được phong là Đoan Quốc Công.

Sau khi cha chết và anh bị hại vì tay người anh rể là Trịnh Kiểm, binh quyền hống hách, ông muốn xa lánh triều đình, nên nhờ chị nói với anh rể cho vào trấn đất Thuận Hóa, từ năm 1558. Năm 1593, vua Lê Thế Tôn dứt được nhà Mạc dời đô từ An Trường về Thăng Long. Nhân dịp ấy, ông ra chầu vua, và ở lại kinh đô luôn tám năm. Từ năm 1600 ông lại vào ở hẳn đất Thuận Hóa, dựng cơ sở đầu tiên cho Triều Nguyễn.

Ông chết năm 1613, thọ 89 tuổi. Người đương thời gọi ông là “Chúa Tiên” hay Tiên Vương. Đến khi vua Gia Long thống nhất sơn hà, sắc phong ông là “Thái Tổ Gia Dũ Hoàng Đế”.

Vợ, con chúa Nguyễn Hoàng

Chiếu theo gia phả nhà Nguyễn, thì ông Nguyễn Hoàng có mười người con trai, song mười người ấy không phải cùng một mẹ sinh ra. Gia phả không ghi chép hàng con gái.

Chúng ta có thể biết rõ tính danh và tung tích cả mười người con trai ấy, song về những người mẹ của họ thì gia phả chỉ kể sơ lược tiểu sử bà được phong là Hoàng Hậu, và chỉ nói sơ qua tước hiệu những bà mẹ của những hoàng tử nào có địa vị đặc biệt mà thôi, còn những hoàng tử khác sinh bởi mẹ nào không nói rõ.

Người con cả là Nguyễn Hà, sinh bởi bà vợ cả; Nguyễn Hà không được nối nghiệp cha, nên mẹ, tuy là vợ cả, không được phong làm Hoàng Hậu. Gia phả chỉ ghi tước hiệu bà là “Đoan Quốc Thái phu nhân”.

Con thứ hai, Hán; thứ ba, Thành; thứ tư, Diễn; thứ năm, Hải; gia phả không cho biết sinh bởi mẹ nào.

Con thứ sáu, Nguyên, được chọn kế vị ông Nguyễn Hoàng, đương thời gọi là Sãi Vương sau được truy tôn là Hy Tôn Hiếu Văn Hoàng Đế. Vì vậy, mẹ là vợ thứ, lại được cất lên bậc Hoàng Hậu. Bà quê ở Thanh Hóa, cũng họ Nguyễn, song không rõ tên cha mẹ là gì. Chết ngày 16 tháng 5, năm nào không rõ. Vua Gia Long phong tước là “Từ Lương Quang Thục Minh Đức Y Cung Gia Dũ Hoàng Hậu”

Con thứ bảy, thứ tám là Hiệp, Trạch, làm nguỵ, gia phả không hề nói đến mẹ.

Con thứ chín là Dương, “sinh bởi một mẹ không rõ lai lịch”.

Sau cùng, con thứ mười là Khè, lại được gia phả ghi rõ tên mẹ: “Minh Đức Vương thái phi”.

Tóm lại trong các người vợ của ông Nguyễn Hoàng, người ta chỉ biết tên ba bà thôi, hay nói cho đúng, chỉ biết tước hiệu do vua Gia Long truy tặng cho các bà. Xét theo thứ bậc quan hệ thì phải kể như sau:

Quan trọng hơn cả là Gia Dũ Hoàng Hậu. Tước đầy đủ là Từ Lương Quang Thục Minh Đức Y Cung Gia Dũ Hoàng Hậu. Thứ đến Minh Đức Vương thái phi: bà này tuy là vợ chót, nhưng lại được truy tặng là bậc đứng đầu hàng “phi”, vì con là Hoàng tử Khê có công lớn với triều đình. Cả hai bà này tước rất trọng, đều được tước hiệu là “Minh Đức” chỉ khác nhau về thứ bậc “Hoàng Hậu” và “Vương Phi”. Sau cùng mới đến bà vợ cả, tước hiệu rất thường: Đoan Quốc Công Thái Phu Nhân.

“Hoàng Hậu” và “Vương Phi” là tiếng chỉ vợ chính và vợ lẽ của bậc vua chúa. Còn tiếng “Phu Nhân” để chỉ vợ quan hay dân có ít nhiều địa vị. Như vậy, Đoan Quốc Công Thái phu nhân, chỉ có nghĩa là vợ ông Đoan Quốc Công, tức là tước hiệu thường của Nguyễn Hoàng, khi chưa được truy tặng vương quyền.

Bà Thái phi Minh Đức

Nguồn sử liệu của ta chỉ cho biết vài chi tiết sơ lược như trên về vợ con chúa Nguyễn Hoàng. Nếu chúng ta biết thêm gì về bà Minh Đức, ấy là nhờ nguồn sử liệu của các nhà truyền giáo đương thời.

Trong các cuốn ký sự về việc truyền giáo xứ ta hồi ấy, các nhà truyền giáo đã nói rất nhiều đến bà, với tên thánh là Maria, hoặc đầy đủ hơn: Maria Mađalêna. Nhờ các tác giả ấy tả rõ mối liên hệ của bà với các chúa đương thời, nên có thể đem các tài liệu ra đối chiếu, suy luận, mà nhận rõ được bà là Minh Đức Vương Thái phi.

Chính cha Cadière giáo sị địa phận Huế, một nhà sử học nổi tiếng, sau nhiều năm tìm tòi và nghiên cứu tài liệu tại các thư viện trong nước và ngoại quốc, là người đầu tiên đưa ra quyết luận trên đây và cho là một sự thực lịch sử không thể sai lầm. (1)

Khảo sát và đối chiếu các tài liệu, người ta có thể biết bà Minh Đức sinh vào khoảng năm 1568. Quả thực, cha Đắc Lộ khi kể các việc xảy ra năm 1644-1645, có cho biết, hồi ấy bà đã “ngoài bảy mươi sáu tuổi” (2). Ta hãy kể như bà thọ chẵn 76 tuổi vào năm 1644, thì biết bà sinh năm 1568. Bà dòng dõi nào, nguyên quán đâu, ta không rõ. Chỉ biết rằng, theo gia phả nhà Nguyễn, ông Nguyễn Phúc Khê, con út ông Nguyễn Hoàng, do mẹ là Minh Đức Vương Thái Phi, sinh ra ngày 19 tháng 2 năm 1589, tức là trong thời kỳ ông Nguyễn Hoàng đóng ở Thuận Hóa lần thứ nhất (1558-1593).

Như vậy, lúc sinh ông Hoàng Khê, bà Minh Đức mới 21 tuổi, ông Nguyễn Hoàng 64 tuổi, và hai ông bà làm bạn với nhau chắc chỉ mới một vài năm trước, nghĩa là lúc bà Minh Đức vừa đến độ thanh xuân. Sự chênh lệch này không đáng ngạc nhiên, vì ở thời trước, nhất là trong giới quý phái, khi một người đã có tuổi mà lấy vợ lẽ, thường cưới một thiếu nữ trẻ tuổi. Đàng khác, ta sẽ thấy bà Minh Đức chẳng những sống hết đời chúa Nguyễn Hoàng và chúa Sãi, mà còn qua đời chúa Thượng, đến đầu đời chúa Hiền là chắt nội ông Nguyễn Hoàng nữa. Theo các tài liệu sẽ dẫn chứng sau này, bà Minh Đức chết vào khoảng cuối năm 1648 hay đầu năm 1649. Như vậy, bà thọ ngoài 80 tuổi.(3)

Ông Hoàng Khê

Muốn hiểu rõ vai tuồng lịch sử của bà Minh Đức, cần phải hiểu rõ địa vị và công nghiệp của Hoàng tử Khê, con bà, trong triều Nguyễn Phúc buổi đầu.

Tinh thông võ bị và mưu trí hơn người, ông được chúa Tiên bổ nhiệm chức chưởng cơ. Khi chúa Nguyễn Hoàng chết, và anh ông là Sãi Vương lên nối nghiệp (1613), Hoàng tử Khê mới 25 tuổi.

Năm Bính Dần 1629, đời Sãi Vương, ông thăng tới chức Tổng trấn, với tước Tường Quận công. Năm 1635, Sãi Vương chết, con là Công Thượng Vương lên thay. Hoàng tử Khê với tư cách Hoàng thúc, được uỷ nhiệm tu chỉnh nền hành chính trong xứ, và phụ giúp tân vương mọi việc. Ông có công đánh dẹp được đám loạn quân do Hoàng tử An, em Công Thượng Vương cầm đầu, đựơc chúa Thượng trọng thưởng.

Ông chết năm Bính Tuất 1646, thọ 58 tuổi, đã từng giúp việc triều chính 40 năm, dưới 3 đời vua, tài cao đức lớn, ai cũng cảm phục. Được suy tôn Thượng trụ Quốc tổng trấn Quận công. Chôn tại làng Hiền sĩ, tỉnh Thừa Thiên, có đền thờ ở làng Nam Phổ, và được thờ tại Thái Miếu.

Vua Minh Mạng, truy phong cho ông tước Nghĩa Hưng Quận Vương, ngụ ý khen ông là bậc công thần đã tận tâm trung thành với các tiên đế lúc khai sáng sự nghiệp.

Quả thực, ông đã chứng tỏ là một bậc trung thần hiếm có. Hồi ấy cơ sở nhà Nguyễn chưa củng cố, mỗi khi có sự thay đổi ngôi thứ, làm nảy ra bao nhiêu tham vọng chiếm đoạt, như việc Hoàng tử Hiệp, Trạch, Anh lần lượt dấy loạn. Phần ông, nếu ông có tham vọng ấy, ông có thể may mắn thành công hơn nhiều, nhất là khi Sãi Vương chết, Công Thượng Vương lên kế vị rất yếu thế, mà ông thì có ảnh hưởng lớn. Song ông không hề có tham vọng chiếm đoạt chính quyền.

Khi Sãi Vương gần tắt thở, gọi ông đến bên giường bệnh, gởi gắm con mình là Công Thượng Vương và nhờ cậy giúp đỡ tân vương, ông long trọng hứa hết lòng tận tuỵ. Và cả đời, ông trọn vẹn với lời hứa. Chính ông đã dẹp được Hoàng tử Anh để bảo vệ tân vương. Và chính ông giúp tân vương chỉnh đốn việc cai trị.

Tất cả sự nghiệp ấy, ông đều lập được dưới con mắt chứng kiến – và có lẽ với ảnh hưởng của một bà từ mẫu: Minh Đức Vương thái phi (Bà Minh Đức sống lâu hơn ông hai năm).

Xem thế đủ rõ, trong triều các chúa đầu nhà Nguyễn, bà Minh Đức Vương thái phi có một địa vị và một uy thế rất lớn.

Mà bà lớn ấy là một người Công giáo gương mẫu.

Chú thích

(1) Xem bài: “Une princesse chrétiene à la Cour des premiers Nguyễn: Madame Marie” của L.Cadière, trong “Bulletin des Amis du Vieux Huế”, tập 2 năm 1939. Và bài: “Chú thích J; về bà Maria” cũng của tác giả, trong “Lịch sử Đạo Thiên Chúa ở Việt Nam”, Đại Việt, Huế 1944.

(2) Còn tại liệu và chú thích trang 64 sau đây.

(3) Cha Cadière cũng công nhận “năm 1644, bà Minh Đức đã có hơn 76 tuổi”, nhưng đến khi tính năm sinh của bà, cha lại coi bà thọ hơn 76 tuổi vào năm 1648-1649 là năm bà chết, và tính từ đó ngược lại, thành ra năm sinh vào khoảng 1573-1574 hoặc sớm hơn một vài năm nữa, tức là trong khoảng 1570-1574. Theo cách này thì bà sinh ông Hoàng Khê vào khoảng 18 tuổi mà thôi. Chúng tôi không đồng ý về cách tính này, vì nếu năm 1644 bà Minh Đức đã có hơn 76 tuổi, thì đến năm 1648-1649 bà phải thọ ngoài 80 tuổi mới phải; và như vậy bà phải sinh vào khoảng năm 1568, như chúng tôi đã nói ở trên.

Tác giả Phạm Đình Khiêm