Archive | May 2007

Một số món nước pha chế từ mật ong


  1. ** Sữa mật ong – ngon lắm nhé

    ** Rhum mật ong

    ** Cam mật ong, trà mật ong v.v…

    Khi bị đau bụng hoặc bụng yếu, rót 1 ít mật ong, rồi pha với nước âm ấm hoặc nóng 1 tí, pha đừng quá đặc or quá loãng . Uống thế vừa ngon vừa tốt lại có lợi cho da dẻ nữa *nghe mama nói thế *

  2. Mật ong pha rượu Brandy loai dịu như conag hay là pha linquer uống mới bốc,

Mật ong có một công dụng rất thú vị mà các bà, các mẹ, các cô, các chị, các em rất thích!
Uống mật ong không những có lợi cho cổ họng, giúp có giọng nói trong hơn, thánh thót hơn, lảnh lót hơn, mà còn giúp cho da mặt mịn màng và giữ được độ tươi trẻ rất lâu.


MUỐN CÓ ĐƯỢC MẬT ONG RỪNG NGUYÊN CHẤT CỰC TỐT THÌ HÃY PM HOẶC GỌI CHO MÌNH – YM: sea_love79 hay QUỲNH GIAO 0913 774 574

Advertisements

Mật ong và đời sống!


Mật o­ng do con o­ng làm ra từ nhụy hoa. Mỗi con o­ng đều có túi mật để chứa mật hoa. Mật hoa trong túi mật được phân hóa thành hai loai đường: fructose và glucose. Trong mật hoa còn có rất nhiều nước nhưng lượng nước này sẽ bốc hơi đi làm mật hoa đặc lại thành mật o­ng . Các nhà sinh vật học đã thống kê ra rất nhiều loại o­ng khác nhau. Ðặc biệt có một loài o­ng sản xuất ra nhiều mật o­ng mà chúng ta quen gọi là o­ng Mật . o­ng Mật có thể bay xa đến 6 dậm Anh để lấy mật hoa, thông thường thì o­ng Mật bay tìm hoa từ 1 đến 2 dậm. o­ng thường lấy phấn hoa và mật hoa vào mùa Xuân lúc cây đang nở hoa.

Trong tục ngữ Việt Nam, chúng ta thường nói: “Mật ngọt chết ruồi”, nhưng ngoài việc hấp dẫn đối với các côn trùng, mật o­ng còn dùng để dinh dưỡng và trị bệnh. Mật o­ng là một trong những môn thuốc cổ truyền nhất . Sự sử dụng mật o­ng được ghi nhận trong các bảng đất trong văn minh Sumer khoảng 4000 năm và trong giấy papyri của Ai Cập khoảng 1900 đến 1230 năm trước Công nguyên.

Mật o­ng được dùng từ cả ngàn năm để trị bệnh. Mật o­ng có tính diệt trùng và được dùng trị các bệnh đau cổ họng, cháy bỏng và đứt da rất công hiệu. Sau đây là vài cách dùng mật o­ng để trị bệnh trong bài viết của Bác sĩ Trần Ðình Hoàng trong bài viết của ông cho báo Y Tế Nguyệt san tháng 6 năm 2001. Mình xin liệt ra đây với hy vọng là quí đọc giả có thể áp dụng khi hữu sự .

  • Ðể dịu cơn đau cổ họng: quậy nước nóng với mật o­ng và nữa trái chanh rồi uống.
  • Nếu cảm thấy mệt mỏi và yếu sức, thì thử uống một muỗng mật o­ng để có năng lượng do các đường fructose và glucose dễ dàng hấp thụ vào máu.
  • Mật o­ng hỗ trợ sức khỏe tổng quát và làm khỏe người. Hàng ngày có thể dùng mật o­ng bằng cách thêm vào thức uống, trét vào bánh hay ăn không.
  • Mỗi buổi sáng uống một ly nước nóng pha mật o­ng và chanh sẽ làm sạch cơ thể và giúp cơ thể mạnh thêm.
  • Trước khi đi tập thể dục thể thao, dùng một muỗng mật o­ng để cung cấp năng lượng cho cơ thể.
  • Ho và cảm: Mật o­ng được sử dụng rộng rãi như một liều thuốc cho các chứng cảm, ho, đau cổ họng. Về đau cổ họng, dùng mật o­ng một mình hay súc họng bằng hỗn hợp chứa 2 muỗng mật o­ng, 4 muỗng giấm cider và một ít muối. Về ho và cảm, uống nước nóng pha với chanh và mật o­ng sẽ làm dịu các triệu chứng. Thêm một ít dầu eucalyptus hay gừng sẽ bớt nghẹt mũi và dễ ngủ.
  • Ðứt da và trầy da: mật o­ng có tính sát trùng có thể giúp giữ sạch vết đứt, vết trầy da khỏi bị nhiễm trùng.
  • Một loại mật o­ng ở New Zealand được tìm thấy có tính chất sát trùng nhiều hơn các loại mật o­ng khác, đó là mật o­ng Manuka. Ngoài việc được dùng để trị bệnh nhiễm trùng ngoài da, loét, bỏng, mật o­ng này còn đang được nghiên cứu cho trị liệu loét bao tử.
  • Trị bệnh tiêu hóa: Người La Mã là người đầu tiên sử dụng mật o­ng làm thuốc nhuận trường nhẹ. Ðiều ngạc nhiên là mật o­ng còn dùng để chữa bệnh tiêu chảy. Người ta cho rằng mật o­ng giúp cơ thể tiêu diệt vài loại vi trùng trong ruột.

Ðức Chúa Trời đã tỏ rõ tình thương của Ngài đối với con người trong mọi sự. Ngay cả một tạo vật nhỏ như con o­ng cũng góp phần không nhỏ trong việc gìn giữ và bảo vệ cho sức khỏe con người. Ðiều đó cũng đã được Ðức Chúa Trời khẳng định trong Mathiơ đoạn 6 câu 25, 26: “Vậy nên ta phán cùng các ngươi rằng: Ðừng vì sự sống mình mà quá lo đồ ăn uống … Hãy xem loài chim trời: chẳng có gieo, gặt cũng chẳng có thâu trử vào kho tàng, mà cha các ngươi ở trên trời nuôi nó . Các ngươi há chẳng phải là quí trọng hơn loài chim sao?”

MUỐN CÓ ĐƯỢC MẬT ONG RỪNG NGUYÊN CHẤT CỰC TỐT THÌ HÃY PM HOẶC GỌI CHO MÌNH – YM: sea_love79 hay QUỲNH GIAO 0913 774 574

Viết thay cho ba Ruby!


Con yêu!

Hồi hộp lớn theo con mỗi ngày. Con khiến cha mẹ hơn bao giờ hết gần nhau đến tận cùng. Cha biết xót theo cái nhăn mặt của mẹ mỗi khi đi vào chỗ xóc. Cha biết run lên vì hạnh phúc khi thấy nhịp tim con đập vọng ra từ bụng mẹ. 133 lần/phút. Con khiến cha vượt qua những mệt mỏi thường nhật.
Cha bắt đầu học cách ngồi lặng yên hàng giờ để dõi theo những hành động của một đứa trẻ. Để cha học ngôn ngữ của con. Để cha học những khó khăn của con. Để cha cảm được từng ý nghĩa của tiếng khóc. Mẹ hoài thai con bằng sự khó nhọc của cơ thể. Cha hoài thai con bằng sự trưởng thành và trách nhiệm của một người bố. Căn phòng nhỏ sẽ ắp đầy tiếng khóc của con, mùi sữa và cả những giọt nước mắt hạnh phúc. Giờ đây, con đang ở trong đấy, dù tối mịt, nhưng cha biết, con sẽ cảm được những gì mẹ đang hy sinh cho con. Dù đó chỉ là nỗi cảm. Con sẽ biết ơn mẹ nhé! Con sẽ yêu mẹ nhiều hơn nhé! Và cha cũng vậy. Cha cũng biết ơn mẹ. Cha cũng yêu mẹ thật nhiều.

Hạnh phúc thay khi biết mình sắp được làm cha. Hạnh phúc thay khi biết mình có một ngôi sao nhỏ. Để từ đó, mình sẽ không còn là mình. Để từ đó, cuộc đời cha là của con. Hạnh phúc được nhận từ tiếng cười của con. Vui buồn theo cảm xúc của con.

Ngày đó ! Ngày đó sẽ đến nhanh lắm phải không con? Cha sẽ khai sinh cho con bằng cả cuộc đời phía trước của mình. Bằng tất cả những gì cha đã có được. Và cả bằng những ước mơ của con. Ngọt ngào thay! Ấm áp thay!

Con yêu!

Con sẽ dạy cha chứ! Con sẽ cho cha biết cha cần phải làm gì. Con sẽ dạy cha biết rằng con đường nào rồi cũng về đến ngôi nhà nhỏ của chúng ta. Rằng nụ cười nào phải chỉ là tiếng cười mà còn cả một không gian hạnh phúc. Rằng nước mắt hạnh phúc bắt đầu từ đôi mắt con nhìn. Những ngón tay xinh xinh, những ngón chân hồng hào. Cái miệng rất nhỏ và đôi mắt sẽ thấu tận cùng trái tim cha.

Con yêu!

Chỉ hơn 7 tháng nữa thôi. Là hơn 200 ngày một tẹo. Là nỗi run rẩy của cha mỗi khi mẹ con đau, là nghẹn ngào cha xem hình ảnh siêu âm con trong bụng mẹ. Là nỗi hồi hộp cha mỗi giờ tan sở vội vã trở về. Là mỗi sớm mai cha vẫn giữ thói quen hôn mẹ con trước giờ đi làm. Và giờ đây sẽ thêm, hôn con thật nhẹ. Là danh sách đến hơn 200 cái tên với 200 lời giải nghĩa về sự hy vọng cha muốn gửi gắm đến con. Không chỉ là một cái tên hay mà còn phải là một cái tên chắc chắn sẽ khiến con yêu nó. Cha bày sẵn cuộc đời mình để con ra đời và sử dụng.

Con yêu!

Muốn nói thật nhiều, muốn viết thật nhiều nữa những gì cha đang nghĩ về con. Nhưng mọi lời nói đều chỉ là những hạn định ý nghĩa. Chỉ có tấm lòng là vô hạn tâm tư. Hãy để cha đặt con vào giữa trái tim mình, con nhé!

Ý nghĩa của màu sắc


Xem hình
‘màu sắc có ảnh hưởng rất lớn đến sức cảm của không gian’

Mỗi màu sắc có một ý nghĩa riêng. Vận dụng ý nghĩa của màu sắc để ứng dụng vào từng không gian cụ thể sẽ giúp bạn cảm thấy thoải mái hơn khi ở trong ngôi nhà của mình. Đỏ: kích động, nổi trội, làm không gian trông hẹp lại và làm các đồ vật tăng kích thước. Phù hợp để tạo điểm nhấn. Không thích hợp với không gian phòng ngủ trẻ em, bếp, phòng ăn…

Vàng: kích thích não và hỗ trợ khả năng lĩnh hội. Thích hợp với không gian bếp, hành lang.

Xanh lá: tạo sự thư thái và hồi sức. Thích hợp với phòng tắm, phòng điều trị. Không phù hợp với phòng học, phòng chơi của trẻ, phòng sinh hoạt gia đình…

Xanh biển: an bình. Nên chọn cho không gian phòng ngủ. Không dùng trong phòng ăn, phòng sinh hoạt chung của gia đình, phòng học…

Tím: kích thích sự sống. Thích hợp với phòng ngủ, không dùng trong nhà bếp, phòng tắm.

Hồng: lãng mạn: thích hợp cho phòng ngủ, không dùng trong nhà bếp, phòng tắm.

Cam: mạnh mẽ, vui tươi. Dùng trong phòng ăn, phòng sinh hoạt, hành lang. Không dùng trong phòng ngủ hoặc nơi có diện tích nhỏ hẹp.

Trắng: sự khởi đầu mới. Phù hợp với không gian nhà bếp, phòng tắm. Không nên dùng trong phòng trẻ em, phòng ăn

Ngũ hành!


Dạo này tôi nghiên cứu nhiều về phong thủy, lại thấy đó là một môn khoa học huyền bí chứ không phải là trò mê tín dị đoan như tôi vẫn thường nghĩ, càng đi sâu vào nghiên cứu vào tôi càng say mê, xin đem một chút hỉểu biết của tôi ra cho mọi ng đóng góp, xin đừng nói múa rìu qua mắt thợ.
Can tượng trưng cho trời, Chi tượng trưng cho đất. Can Chi kết hợp để tạo nên hệ đếm Can Chi gồm 60 sự kết hợp còn gọi là lục thập hoa giáp. Sự kết hợp của Can và Chi sẽ tạo thành một Ngũ Hành khác biệt, dùng để luận đoán bản chất của sự kết hợp vận động của vật chất, cụ thể là hai khí âm dương trong quá trình hình thành vũ trụ và thế giới tự nhiên. Cụ thể như sau :

Giáp Tí-Ất Sửu là Hải Trung Kim. Tí thuộc Thuỷ lại là cái hồ, lại là đất vượng của Thuỷ, kiêm Kim tử ở Tí, Mộ ở Sửu, Thuỷ vượng mà Kim tử Mộ, vì vậy đặt là Hải Trung Kim (vàng dưới biển).

Bính Dần-Đinh Mão là Lô Trung Hỏa, Dần là tam Dương, Mão là tứ Dương (thuộc quẻ Đại Tráng của 12 quẻ tiêu tức) nên Hỏa đã đắc địa, lại được Mộc của Dần Mão mà sinh ra như thế thời đó trời đất như mở lò ra, vạn vật bắt đầu sinh vì vậy gọi là Lô Trung Hỏa (lửa trong lò).

Mậu Thìn-Kỷ Tỵ là Đại Lâm Mộc. Thìn là chốn thôn dã. Tỵ là lục Dương (thuần Dương, Tỵ là quẻ Càn của 12 quẻ tiêu tức), Mộc đến lục Dương thì cành tốt tươi, lá rậm rạp phong phú. Lấy sự tốt tươi thịnh vượng của Mộc mà vốn ở chốn thôn dã, vì vậy đặt là Đại Lâm Mộc (cây rừng lớn).

Canh Ngọ-Tân Mùi là Lộ Bàng Thổ, Mộc ở trong Mùi (vì Mùi tàng Can Ất) mà sinh vượng Hỏa của ngôi vị Ngọ. Hỏa vượng thì Thổ bị đốt khô đi, Mùi có thể nuôi nấng vạn vật, giống như lộ bàng thổ, vì vậy đặt là Lộ Bàng Thổ (đất bên đường).

Nhâm Thân-Quý Dậu là Kiếm Phong Kim. Thân Dậu là chính vị của Kim, Kim Lâm Quan ở Thân, Đế Vượng ở Dậu, Kim đã sinh vượng thì thành cương (là thép) vậy, cương thì vượt hơn ở kiếm phong, vì vậy đặt là Kiếm Phong Kim (kim mũi kiếm).

Giáp Tuất-Ất Hợi là Sơn Đầu Hỏa. Tuất Hợi là thiên Môn, Hỏa chiếu thiên môn, ánh sáng của nó lên rất cao, chí cao vô thượng, vì vậy đặt là Sơn Đầu Hỏa (lửa đầu núi).

Bính Tí-Đinh Sửu là Giản Hạ Thuỷ. Thuỷ vượng ở Tí, suy ở Sửu, vượng mà lật lại là suy thì không thể là giang hà (sông lớn) được, vì vậy đặt là Giản Hạ Thuỷ (nước dưới khe).

Mậu Dần-Kỷ Mão là Thành Đầu Thổ. Thiên Can Mậu Kỷ thuộc thổ của Dần là Cấn sơn, thổ tích lại mà thành núi, vì vậy đặt là Thành Đầu Thổ (đất đầu thành).

Canh Thìn-Tân Tỵ là Bạch Lạp Kim (hợp Kim của thiếc và chì), Kim Dưỡng ở Thìn, Sinh ở Tỵ hình chất mới sơ thành, chưa thể vững chắc ích lợi được, vì vậy đặt là Bạch Lạp Kim (kim trong nến).

Nhâm Ngọ-Quý Mùi là Dương Liễu Mộc. Mộc Tử ở Ngọ, Mộ ở Mùi, Mộc đã Tử Mộ tuy được Thuỷ của Thiên Can Nhâm Quý sinh để sống, chung lại là nhu nhược, vì vậy đặt là Dương Liễu Mộc (cây dương liễu).

Giáp Thân-Ất Dậu là Tỉnh Tuyền Thuỷ. Kim Lâm Quan ở Thân, Đế Vượng ở Dậu, Kim đã vượng thì Thuỷ do đó sinh ra, như vậy là mới đang lúc sinh ra, lực lượng chưa lớn, vì vậy đặt là Tỉnh Tuyền Thuỷ (nước dưới suốâi).

Bính Tuất-Đinh Hợi là Ốc Thượng Thổ. Bính Đinh thuộc Hỏa, Tuất Hợi là thiên môn, Hỏa đốt cháy ở trên thì Thổ không ở dưới mà sinh ra được, vì vậy đặt là Ốc Thượng Thổ (đất trên nóc nhà).

Mậu Tí-Kỷ Sửu là Tích Lịch Hỏa. Sửu Tí thuộc Thuỷ, Thuỷ cư ở chính vị mà nạp âm chính là Hỏa, Hỏa ở trong Thuỷ nếu không phại là Thần Long thì không thể làm được, vì vậy đặt là Tích Lịch Hỏa (lửa sấm sét).

Canh Dần-Tân Mão là Tùng Bách Mộc. Mộc Lâm Quan ở Dần, Đế Vượng ở Mão, Mộc đã vượng thì không thể nhu nhược được, vì vậy đặt là Tùng Bách Mộc (gổ cây tùng, bách).

Nhâm Thìn-Quý Tỵ là Trường Lưu Thuỷ. Thìn là Mộ của Thuỷ, Tỵ là nơi Kim Sinh, Kim sinh thì Thuỷ tính đã giữ lại, lấy Mộ Thuỷ mà gặp sinh Kim thì nguồn suối không cạn, vì vậy đặt là Trường Lưu Thuỷ (nước nguồn).

Giáp Ngọ-Ất Mùi là Sa Thạch Kim. Ngọ là đất Hỏa Vượng, Hỏa vượng thì Kim chảy ra, Mùi là đất Hỏa Suy, Hỏa suy thì Kim Quan Đái. Hỏa Suy mà Kim Quan Đái thì Mùi có thể thịnh mãn, vì vậy đặt là Sa Thạch Kim (kim trong cát).

Bính Thân-Đinh Dậu là Sơn Hạ Hỏa. Dậu là cửa nhập của nhật (mặt trời lặn), nhật đã đến ở thời đó thì ánh sáng tàng ẩn, vì vậy đặt là Sơn Hạ Hỏa (lửa dưới núi).

Mậu Tuất-Kỷ Hợi là Bình Địa Mộc. Tuất nguyên là chốn thôn dã, Hợi là đất Mộ sinh ra, Mộc sinh ra ở chốn thôn dã thì không thể là một rễ cây, một gốc cây, vì vậy đặt là Bình Địa Mộc (cây ở đồng bằng).

Canh Tí-Tân Sửu là Bích Thượng Thổ. Sửu tuy là chính vị nhà của Thổ, mà Tí là đất của Thuỷ vượng, Thổ gặp Thuỷ nhiều thành là bùn, vì vậy đặt là Bích Thượng Thổ (đất trên vách).

Nhâm Dần-Quý Mão là Kim Bạc Kim. Dần Mão là đất của Mộc vượng, Mộc vượng thì Kim gầy yếu; lại nữa, Kim Tuyệt ở Dần, Thai ở Mão. Kim đã vô lực vì vậy đặt là Kim Bạc Kim (kim pha bạc).

Giáp Thìn-Ất Tỵ là Phú Đăng Hỏa. Thìn là thực thời (giờ ăn), Tỵ là ở trong khu vực, trong tướng của nhật, Dương rực rỡ, thế sáng sủa, phong quang ở thiên hạ, vì vậy đặt là Phú đăng Hỏa (lửa đèn lồng).

Bính Ngọ-Đinh Mùi là Thiên Hà Thuỷ. Bính Đinh thuộc Hỏa, Ngọ là đất Hỏa vượng, mà nạp âm chính là Thuỷ, Thuỷ từ Hỏa xuất ra, nếu không phải là ngân hà thì không thể có nước nầy, vì vậy đặt là Thiên Hà Thuỷ (nước trên ngân hà, nước sông trên trời).

Mậu Thân-Kỷ Dậu là Đại Dịch Thổ. Thân là Khôn, Khôn là địa, Đậu là Đoài, Đoài là trạch (đầm). Thổ của Mậu Kỷ gia lên trên địa trạch nầy chẳng phải cái nào khác là Thổ phù bạc, vì vậy đặt là Đại Dịch Thổ (khu đất rộng lớn).

Canh Tuất-Tân Hợi là Thoa Xuyến Kim. Kim đến Tuất mới Suy, đến Hợi mới Bệnh thì đúng thật là nhu vậy, vì vậy đặt là Thoa Xuyến Kim (kim trâm thoa hay vàng trang sức).

Nhâm Tí-Quý Sửu là Tang Chá Mộc. Tí thuộc Thuỷ, Sửu thuộc Kim, Thuỷ sinh Mộc còn Kim kh
c Mộc (Mộc mới sinh thì yếu giống như cây tang chá), vì vậy đặt là Tang Chá Mộc (gỗ cây dâu).

Giáp Dần-Ất Mão là Đại Khê Thuỷ, Dần là góc Đông Bắc, Mão là chính Đông, Thuỷ chảy chính Đông (“chúng thuỷ triều Đông” – muôn nhánh sông đều chảy về phương Đông) thì thuận tính nó, nên sông suối, khe, ao, đầm, hồ đều hợp với nhau mà quay trở về, vì vậy đặt là Đại Khê Thuỷ (nước ở khe lớn, nước lũ).

Bính Thìn-Đinh Tỵ là Sa Trung Thổ. Thổ Mộ ở Thìn, Tuyệt ở Tỵ mà Hỏa của Thiên Can Bính Đinh đến Thìn là Quan Đái, đến Tỵ là Lâm Quan, Thổ đã Mộ Tuyệt, vượng Hỏa quay lại sinh Thổ, vì vậy đặt là Sa Trung Thổ (đất lẫn trong cát).

Mậu Ngọ-Kỷ Mùi là Thiên Thượng Hỏa, Ngọ là đất Hỏa vượng, Mộc ợ trong Mùi lại phục sinh, tính Hỏa cháy ở trên, lại gặp sinh địa, vì vậy đặt là Thiên Thượng Hỏa (lửa trên trời).

Canh Thân-Tân Dậu là Thạch Lựu Mộc. Thân là tháng 7, Dậu là tháng 8, thời ấy thì là Mộc tuyệt vậy, duy mộc của thạch lựu, trái lại bền chắc, vì vậy đặt là Thạch Lựu Mộc (gỗ cây thạch lựu).

Nhâm Tuất-Quý Hợi là Đại Hải Thuỷ. Thuỷ Quan Đái ở Tuất, Lâm Quan ở Hợi, Thuỷ vượng thì lực hậu (dầy), kiêm Hợi là giang (sông lớn) nên lực mạnh thế tráng, không phải Thuỷ ấy thì không thể như thế, vì vậy đặt là Đại Hải Thuỷ (nước trong biển lớn).

Entry for May 28, 2007 – Mỗi ngày đi làm….


Với tôi, mỗi ngày đi làm là một nỗi ám ảnh, là những bữa sáng Ruby cứ ôm cứng lấy mẹ, gục đầu vào vai mẹ, hai bàn tay nhỏ xíu xinh xinh cứ ghì chặt lấy cổ mẹ, như sợ rằng con mà nới lỏng vòng tay ra 1 chút thôi là mẹ có thề tan biến đi mất vậy. Có những hôm 2 mẹ con cứ ôm nhau mãi như thế cho đến lúc dì Huệ phải tách con ra khỏi mẹ, con vừa khóc vừa nhìn mẹ, ánh mắt con van lơn như thể mong mẹ hãy ẳm con thêm chút nữa. Đó là nỗi ám ảnh của tôi, ngày này qua ngày kia. Những hôm phải dứt áo đi như thế, tôi như đứt từng đoạn ruột. Trong suốt đoạn đường đi cứ nghĩ, hay là mình nghỉ ở nhà với con luôn, vừa có thời gian chăm con và ở bên con, vừa làm business mà mình thích, sao cứ phải bon chen kiếm 1 chỗ đứng trong cuộc đời này làm gì, chả phải con và gia đình là điều quan trọng nhất với mình sao? Sếp hay trách tôi đi trễ, nhưng tôi không thể nào không ở lại bên con đến limit, tôi không thể nào dễ dàng bỏ đi khi có 1 ánh mắt nhìn tôi như thế… cho dù tôi đi làm chỉ 8 tiếng là về bên con rồi. Tôi vẫn tự trách mình thời gian dành cho con quá ít ỏi và con ở bên dì Huệ còn nhiều hơn ở bên tôi.

Entry for May 25, 2007 – Ruby sốt


Ruby sốt 3 ngày rồi, cứ hết thuốc lại sốt lại, bs cũng chưa biết là bệnh gì, nghi là sốt siêu vi, mẹ cũng nghỉ theo con. Con sốt con teo tóp hẳn, người lúc nào cũng nóng bừng, khó chịu, nhõng nhẽo. Con bệnh mẹ thương đứt ruột mà hổng biết làm gì, vừa cai sữa được 4 hôm thì giờ con bệnh, lại bú lại. Ba có việc phải đi xa, đêm con quấy, mẹ vừa giổ con vừa ngủ gục, 1 mình thôi, mẹ lại không khỏe trong người, mắt cứ nhíu lại mà cứ phải căng ra ẳm con đi vòng vòng khắp phòng. Con khỏe thì mẹ cứ muốn con phải mũm mỉm như con người ta, giờ con bệnh rùi mẹ mới biết, mẹ chỉ mong con khỏe mạnh, chơi đùa là mẹ mãn nguyện rồi, mập hay ốm có quan trọng gì đâu…